[tintuc]Ít ai nghĩ rằng một doanh nghiệp nhỏ khởi đầu bằng việc nhập khẩu mỹ phẩm thiên nhiên lại có thể trở thành biểu tượng của công nghệ hàn đắp và vật liệu chống mòn tại Việt Nam. Nhưng với BCC, hành trình ấy đã được viết nên bằng sự kiên định, đổi mới và lòng tin vào con người.

Từ những ngày khởi đầu đầy thử thách (2010–2013)


Năm 2010, Bảo Chi ra đời với định hướng kinh doanh các sản phẩm hóa mỹ phẩm tự nhiên từ Thái Lan theo mô hình tiếp thị đa tầng. Logo khi đó mang màu xanh, biểu trưng cho sự gần gũi và tinh khiết. Tuy nhiên, sau một thời gian, mô hình kinh doanh này không đạt được kỳ vọng. Đó là thời điểm thử thách đầu tiên buộc tập thể BCC phải đặt lại câu hỏi: “Giá trị thật sự mà chúng ta muốn tạo ra là gì?”

Bước ngoặt công nghiệp nặng (2014–2016)


Năm 2014, BCC chính thức chuyển hướng sang lĩnh vực công nghiệp nặng – cụ thể là công nghệ hàn đắp phục hồi và chế tạo tấm chịu mòn hai thành phần (hardfacing wear plate). Đây là bước ngoặt lớn, đặt nền móng cho hướng phát triển lâu dài sau này.
Lấy cảm hứng từ Oscar Kjellberg, cha đẻ của ngành vật liệu hàn, BCC thay đổi logo và màu sắc thương hiệu, thể hiện tinh thần sáng tạo, dấn thân và đổi mới công nghệ.



Những thiết bị hàn BCM đầu tiên ra đời, đánh dấu bước tiến từ “người nhập khẩu” thành “người chế tạo”. Cùng với đó là những đơn hàng đầu tiên trong ngành xi măng, khai khoáng và luyện kim – nơi mà vấn đề mài mòn thiết bị luôn là “nỗi đau” của nhà máy.

Giai đoạn bứt phá và định vị thương hiệu (2018–2020)


Đến năm 2018, BCC bắt đầu đặt ra câu hỏi về tương lai: “Chúng ta sẽ đi xa đến đâu nếu làm chủ được công nghệ?”
Câu trả lời đến bằng hàng loạt hoạt động R&D và chuyển giao công nghệ. Năm 2020, giữa đại dịch COVID-19, BCC không dừng lại – ngược lại, một hệ thống hàn 4 mỏ do BCC chế tạo đã được xuất khẩu sang Mexico, mở ra chương mới trong hành trình toàn cầu hóa.

Cùng năm, BCC xây dựng nhà xưởng mới tại KCN Quang Minh, đầu tư dây chuyền sản xuất que hàn và vật liệu hàn đắp, đồng thời ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới – định hình tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi.



Khẳng định vị thế và hướng tới toàn cầu (2021–2024)

Sau đại dịch, BCC tập trung vào hai mục tiêu chiến lược:

  1. Chuyển đổi công nghệ sản xuất D-Plate – dòng tấm chịu mòn hai thành phần tiên tiến.

  2. Xây dựng mô hình “D-Plate Standard Workshop” – mang công nghệ hàn đắp bột kim loại (POP – Powder Overlay Process) đến gần hơn với khách hàng quốc tế.


Năm 2023, nhà xưởng Tân Dân đi vào hoạt động, mở rộng năng lực sản xuất và nghiên cứu. Cũng trong giai đoạn này, thương hiệu D-Plate được định hình như “tô phở công nghiệp” – biểu tượng Việt Nam hóa cho sự hài hòa giữa công nghệ và con người, giữa nền thép bền bỉ và lớp hợp kim tinh tế.

Con người là trung tâm – Công nghệ là chìa khóa

Triết lý này vẫn là kim chỉ nam xuyên suốt hành trình BCC. Công nghệ chỉ thật sự có giá trị khi phục vụ con người – cả trong sản xuất lẫn trong cuộc sống. Mỗi kỹ sư, công nhân tại BCC không chỉ làm ra sản phẩm, mà còn “nấu nên những tô phở công nghiệp” – nơi kỹ thuật, cảm xúc và niềm tự hào Việt hòa quyện.


BCC – One Team, One Goal, One Future

Từ một nhóm kỹ sư nhỏ, BCC đã trở thành đơn vị tiên phong của Việt Nam trong công nghệ hàn đắp và vật liệu chống mòn. Nhưng hơn tất cả, BCC là câu chuyện về niềm tin: tin vào con người, tin vào tri thức Việt, và tin rằng, khi kết hợp đúng “công thức” – như một tô phở ngon – ta có thể tạo nên giá trị bền vững cho cả nền công nghiệp.

Tải file BCC History

[/tintuc]

[tintuc] Đề cập đến các vấn đề cơ bản cần quan tâm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm phục hồi và giảm giá thành đầu tư cho phù hợp với yêu cầu sự phát triển của ngành đường sắt Việt Nam. 

 

PHỤC HỒI BÁNH XE TÀU HỎA BẰNG CÔNG NGHỆ HÀN TỰ ĐỘNG TRONG MÔI TRƯỜNG CO2

Phan Miêng
Lê Quốc Việt

Tóm tắt:

Bài báo trình bày ý nghĩa của việc phục hồi bánh xe tàu hỏa trên thế giới và trong nước. Trình bày cơ sở khoa học và kết quả của việc áp dụng công nghệ hàn tự động trong môi trường CO2 để phục hồi bánh xe tàu hỏa.

Abstract:

This article presents the importance of rehabilitating shaft wheels for railway trains in the country and over the world. It also mentions the basic problems that require attention in order to improve quality and reduce cost to cope with the development of Vietnam’s railway system. It presents the main points of the technology and the successful application process in Vietnam.

1. Đặt vấn đề

- Công tác phục hồi các chi tiết bị mòn là một trong những biện pháp tích cực nhất đem lại hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao, đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải đường sắt. Vấn đề phục hồi bánh xe tàu hỏa gần đây được thế giới đặc biệt chú trọng và nó đã trở thành một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn [4,7]. Công ty TIMKEN tại Hoa Kì trong gần 100 năm được mệnh danh là nhà chế tạo lớn nhất thế giới, nay đã chuyển sang đảm nhiệm phục hồi trục bánh xe tàu hỏa cho 143 hãng thuộc 11 nước khác nhau.

- Bánh xe tàu hỏa thường được chế tạo bằng thép C-Mn, với hàm lượng cacbon 0,45% ⊆ C ⊆ 0,7% , có tính hàn rất kém. Theo đó việc gia công, nhất là hàn đắp phục hồi, rất khó khăn [1,5]. Thế giới áp dụng nhiều loại hình công nghệ hàn (CNH) phục hồi bánh xe tàu hỏa: CNH dưới lớp thuốc, CNH MAG (Metal Active Gas), CNH bằng dây lõi bột [6]. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa thấy có tài liệu nước ngoài nào đề cập cụ thể đến công nghệ phục hồi bánh xe tàu hỏa bằng phương pháp hàn bán tự động hay tự động trong môi trường CO2 . Mặt khác CNH CO2 đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất cơ khí đường sắt ở Uraina, Nga, Mỹ, Canada, ... [6,7].

2. Công nghệ hàn bán tự động

- Ở nước ta, trên cơ sở kết quả đề tài nghiên cứu KH-CN cấp Bộ, viện Khoa học và Công nghệ GTVT (RITST) phối hợp với Liên hiệp đường sắt Việt Nam đã ứng dụng CNH bán tự động trong môi trường CO2 tại một số cơ sở sản xuất cơ khí trong đó có Xí nghiệp Đầu máy và Xí nghiệp Toa xe Đà Nẵng. Kết quả ứng dụng CNH BTĐ CO2 tại hai xí nghiệp này rất khả quan: Bánh xe tàu hỏa được phục hồi đạt chất lượng được khai thác phục vụ trên tuyến Bắc Nam bảo đảm 100% an toàn chạy tàu.

- Tuy vậy, quá trình hàn phục hồi bánh xe tàu hỏa bằng CNH bán tự động nảy sinh một số nhược điểm về chất lượng sản phẩm, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.

- Chất lượng lớp đắp bằng CNH BTĐ CO2 phụ thuộc đáng kể vào sự điêu luyện tay nghề của người thợ. Quá trình hàn luôn phải dừng lại để “xử lý công nghệ”.

- Việc này không những gây lãng phí vật liệu hàn, giảm năng suất lao động mà còn là nguyên nhân gây ứng suất nhiệt và giảm đáng kể chất lượng lớp đắp. Nhiều thông số CNH quan trọng phụ thuộc vào sự điều khiển của người thợ, như: Tầm với điện cực le ; Biên độ lắc ngang điện cực be ; Góc nghiêng điện cực a ; Tốc độ hàn Vh ; Năng lượng đường q1 ; Độ dài hồ quang hàn lHQ ; Chiều cao lớp đắp Cđ.

- Các đại lượng này quyết định sự ổn định của quá trình hàn và tính chất mối hàn (về cả kích thước, cơ tính và cấu trúc kim loại). Đặc biệt vai trò quan trọng của tổng chiều dài hồ quang và điện cực tự do lh = le + lHQ đã được tác giả [2,6] nghiên cứu. Phân tích động học các hàm chuyển đổi đã đi đến kết luận: Khi dòng chập mạch tăng lên, sự kéo dài điện cực nóng chảy phải tăng lên; Do đó sự gia tăng cường độ được điều khiển tự động trong mối quan hệ với le sẽ tạo được một quá trình cháy hồ quang ổn định [2,6].

- Từ những vấn đề nêu trên kết hợp với kết quả khảo sát thực nghiệm cho thấy rằng: để nâng cao chất lượng sản phẩm và cũng là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của sự phục hồi, cần thiết phải nghiên cứu áp dụng phương pháp công nghệ hàn tự động trong môi trường CO2 để phục hồi bánh xe tàu hỏa.

3. CÔNG NGHỆ HÀN TỰ ĐỘNG

- Bằng quá trình hàn tự động cho phép ta chuẩn hóa được hầu hết các đại lượng công nghệ liên quan đến sự ổn định của quá trình cháy hồ quang: le, Vh, lHQ, a, q1, ... Để tiến hành tự động hóa quá trình hàn phục hồi bánh xe tàu hỏa, trước hết cần thiết kế, chế tạo tổ hợp đồ gá quay bánh xe tàu hỏa với tốc độ đều và các đồ gá chuyên dùng khác.

- Bộ gá trục và bánh xe tàu hỏa được chế tạo trên nguyên tắc điều chỉnh vô cấp tốc độ góc với giới hạn tối đa = 0,5 vòng/phút. Bộ gá đầu hàn được thiết kế và chế tạo với các cơ cấu cho phép gá cố định đầu hàn bảo đảm không có dao động trong quá trình toàn bộ dây chuyền hoạt động. Trên mâm gá đầu hàn cho phép chỉnh đầu hàn quay được 2p, điều chỉnh đầu hàn vào-ra trong hành trình 400mm, lên-xuống trong hành trình 500mm và quay nghiêng trong mặt phẳng đứng một góc quét p/4.

- Một nhược điểm cơ bản của quá trình hàn CO2 là hạt thép trong vùng ảnh hưởng nhiệt có kích thước lớn [1,3]. Kích thước này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trong nhất là thành phần hóa học và nhiệt độ. Trong các thông số công nghệ hàn, mối quan hệ giữa thành phần hóa học kim loại lớp đắp và các quá trình nhiệt hàn quyết định cơ – lý tính của kim loại lớp đắp và kim loại vùng ảnh hưởng nhiệt. Trong quá trình hàn phục hồi bánh xe tàu hỏa, mối quan hệ này được giải quyết bằng cách hạn chế tốc độ nguội của liên kết hàn, thông qua việc nung nóng bánh xe tàu hỏa trước khi hàn.

- Trên cơ sở lý thuyết và từ kết quả khảo sát thực nghiệm, nhiệt độ nung nóng ban đầu được tính theo công thức [3,5]:

ct1

- Trong đó: Ce – Đương lượng cacbon, được tính bằng công thức:

ct2

- Từ điều kiện cụ thể và dựa trên cơ sở lý thuyết các quá trình nhiệt hàn, xác định thông số công nghệ hàn, có hiệu chỉnh qua thực nghiệm, chế độ công nghệ hàn được xác định và áp dụng để đắp phục hồi bánh xe tàu hỏa cụ thể như sau:

  • Cường độ dòng hàn                     Ih    = 220 – 240 A
  • Điện áp hồ quang hàn                  UHQ = 23 V
  • Tốc độ hàn                                 Vh    = 26 m/h
  • Nhiệt độ nung sơ bộ                    T1    = 250 – 280°C
  • Tầm với điện cực                        le     = 12 mm
  • Đường kính điện cực                   fe    = 1,2 mm
  • Tốc độ đẩy dây                           Ve    = 5,6 m/h
  • Góc nghiêng điện cực                  a    = 18°

Vật liệu hàn được xác định như trong quá trình hàn bán tự động. Khí CO2 phù hợp với TCVN 5778-94 : H2O ⊆ 0,05%, S ⊆ 0,01 PPM. P ⊆ 0,01 PPM. Dây hàn vẫn dùng loại Ha14CrMn2Si.

- Chất lượng sản phẩm phục hồi được kiểm tra siêu âm phân lớp, nhằm kiểm tra kim loại lớp đắp và vật liệu cơ bản trong vùng ảnh hưởng nhiệt.

4. ỨNG DỤNG VÀO SẢN XUẤT

- Công nghệ hàn tự động CO2 đã được áp dụng vào thục tế sản xuất đại trà trong 2 xí nghiệp cơ khí Đường sắt (XN Đầu máy và XN toa xe Đà Nẵng). Sau hai năm đầu áp dụng công nghệ hàn tự động phục hồi được khoảng 2000 bánh xe tàu hỏa. Số bánh xe tàu hỏa này nếu mua mới phải tốn khoảng 10 tỉ đồng, trong lúc chi phí phục hồi chỉ khoảng 1,6 tỉ đồng. Sản phẩm phục hồi đã kịp thời được khai thác vào quá trình chạy tàu trên tuyến Bắc - Nam. Chất lượng sản phẩm tốt, 100% bảo đảm an toàn trong quá trình chạy tàu.

- Từ kết quả thực tế cho thấy: Tuy độ chịu mài mòn chưa đạt như mong muốn, song dây chuyền công nghệ hàn tự động đã thể hiện nhiều ưu điểm.Vận hành rất thuận lợi và dễ dàng điều chỉnh chính xác thông số công nghệ hàn; quá trình hàn có năng suất gấp 4 lần hàn tay, hồ quang cháy ổn định và sự hàn được tiến hành liên tục, nhờ vậy hạn chế tối đa ứng suất nhiệt tập trung, hạn chế tối thiểu khuyết tật của kim loại lớp đắp.

- Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sản phẩm phục hồi, hiện nay công nghệ hàn CO2 bằng dây lõi bột đã được áp dụng khá phổ biến ở các nước tiên tiến. Phương pháp công nghệ hàn này có nhiều ưu điểm. Phù hợp với mục tiêu Công nghiệp hóa ngành Đường sắt, chúng ta cần nghiên cứu ứng dụng phương pháp công nghệ hàn. Nghĩa là việc nghiên cứu hoàn thiện công nghệ hàn tự động đắp phục hồi bánh xe tàu hỏa đang cần được sự quan tâm của các cơ quan nghiên cứu khoa học-công nghệ và các cơ quan Quản lý Nhà nước.

5. KẾT LUẬN

- Kết quả áp dụng vào thực tế sản xuất đã khẳng định tính ưu việt của dây chuyền công nghệ hàn tự động CO2 : quá trình hàn ổn định, chất lượng sản phẩm phục hồi bảo đảm 100% an toàn chạy tàu, năng suất lao động cao.

- Quá trình hàn tự động CO2 sẽ phát huy tác dụng đích thực khi việc xác định chế độ công nghệ hàn (kể cả chế độ và điều kiện gia nhiệt, vật liệu hàn, ...) được tiến hành chính xác trên cơ sở lý thuyết và hiệu chỉnh thực nghiệm đồng bộ đối với từng loại bánh xe tàu hỏa cụ thể.

- Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi áp dụng rộng rãi vào sản xuất, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ phục hồi và tiến tới xây dựng quy trình công nghệ hàn phục hồi bánh xe tàu hỏa dưới dạng tiêu chuẩn ngành.

Tài liệu tham khảo:

  1. HOÀNG TÙNG, PHAN MIÊNGNghiên cứu hàn thực nghiệm thép hợp kim bằng công nghệ hàn CO2.
  2. MADIGAN N. B, QUINN T. P. An Electrode Extension Model for Gas Metal Arc Welding. Welding Journal, October 1994.
  3. PHAN MIÊNGXác định trường nhiệt vùng cận bể hàn bằng phương pháp hiệu chỉnh thực nghiệm.
    Tạp chí GTVT Số 4. 1999.
  4. PHAN MIÊNGNghiên cứu công nghệ hàn CO2 để hàn thép hợp kim thấp.
    Bộ Giáo dục và Đào tạo. H. 1996.
  5. PHAN MIÊNG, TRƯƠNG VĂN HIỆPỨng dụng công nghệ hàn CO2 hàn đắp bánh xe tàu hỏa. Tuyển tập công trình nghiên cứu Khoa học và ứng dụng kỹ thuật tiến bộ.
    RITST, H. 1994.
  6. Potapievski A. E. Gas Shielded Welding.
    KNDP. Kiev 1989.
  7. Slapin V. N. , Lozinski A. X. Svarotmoje Proizbodstbo na Transportie. Relazo-darochnuje Transport Nr. 11. 1991.

Nguồn: nahaviweld

Đối với que hàn, chúng ta có thể sử dụng QUE HÀN ĐẮP CHỐNG VA ĐẬP D680Mn cho việc hàn bánh tàu và hành đường ray tàu




[/tintuc]

[tintuc]

Đặc điểm của que hàn đắp chịu va đập mạnh D680Mn

D680Mn là que hàn có chứa hợp kim Mn cao nên mối hàn vừa chịu mài mòn, vừa chịu va đập mạnh. Thích hợp để sửa chữa chi tiết máy chịu mài mòn, va đập. Que hàn có tính năng hàn tốt rất dễ để hình thành mối hàn. 

Sau khi hàn độ cứng mối hàn đạt 25 HRC nhưng khi đã làm việc mối hàn có khả năng tự rèn (biến cứng trong khi làm việc) nên độ cứng có thể tăng lên 40 HRC. 

Thành phần hợp kim chính Mangan: lên tới 15%

Thông tin về sản phẩm que hàn đắp chịu va đập mạnh: D680Mn

  • Hãng sản xuất: Bảo Chi (BCC)
  • Tên sản phẩm: Que hàn đắp chịu va đập mạnh D680Mn:
  • Độ cứng kim loại mối hàn: 40 HRC
  • Hệ số đắp: 65%
  • Khả năng chống mài mòn:  0.25g/ 30 phút bào mòn.
  • Nguồn điện hàn 1 chiều hoặc xoay chiều.
  • Sản xuất tại nhà máy que hàn KOVI

Các nhà máy có thể ứng dụng que đắp cứng D680Mn

  •  các chi tiết bề mặt trong nhà máy xi măng, nghiền, đập, vận chuyển đất đá.
  •  các chi tiết mòn trong nhà máy nhiệt điện
  •  các chi tiết mòn trong các trạm nghiền đá, nhà máy gạch, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng
  •  các chi tiết trong trạm trộn bê tông
  •  xưởng sửa chữa gầu xúc, máy ủi, máy công trình.
  •  các chi tiết trong nhà máy giấy, nhà máy đường, các nhà máy cám, thức ăn chăn nuôi
  •  mỏ khai thác đá, mỏ than, khu vực khai mỏ

Que hàn đắp chịu va đập mạnh D680Mn có thể sử dụng để sửa chữa, đắp gia cường độ bền mòn va đập ở các chi tiết như: răng gầu múc, gầu xúc, kẹp hàm, búa nghiền, trục vít, mũi đục; phục vụ sản xuất búa máy nghiền


Thông tin đóng gói que hàn đắp chịu va đập mạnh: D680Mn

  • SIZE: phi 4.0 x 400
  • Trọng lượng: 20kg/thùng, 1 thùng gồn 4 hộp.




LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ NHẬN ĐƯỢC TƯ VẤN GIẢI PHÁP VỀ HÀN ĐẮP, PHỤC HỒI VÀ GIA CƯỜNG TUỔI THỌ CÁC CHI TIẾT  TRONG CÁC NHÀ MÁY XI MĂNG, MỎ ĐÁ VÀ SẢN XUẤT THÉP


[/tintuc]

[tintuc]

QUE HÀN  KOVI là đơn vị thành viên của BCC tập trung vào việc phát triển và sản xuất các dòng que hàn, vật liệu hàn. cho nhiều ứng dụng khác nhau. Trong đó dòng sản phẩm chủ lực đầu tiên là Que hàn dân dụng KV-19 được thử nghiệm và giới thiệu lần đầu tháng 9/2021.


Hiện tại KOVI đang tìm kiếm ứng cho vị trí phát triển thị trường thông qua kênh phân phối truyền thống, đại lý.

MÔ TẢ CÔNG VIỆC

  • Tìm kiếm, khai thác thị trường tiềm năng trên địa bàn được giao.
  • Khảo sát thị trường các tỉnh, thu thập thông tin, dữ liệu của hệ thống cửa hàng, đại lý, nhà phân phối liên quan đến mảng QUE HÀN, VẬT LIỆU HÀN.
  • Tổng hợp thông tin, theo dõi, tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu các diễn biến trên thị trường, từ đó đánh giá tiềm năng của thị trường, báo cáo, tham mưu cho cấp trên để xây dựng các định hướng và chính sách phát triển thị trường phù hợp cho giai đoạn hiện tại và trong tương lai.
  • Triển khai các chương trình khuyến mại, chính sách bán hàng cho các cửa hàng, nhà phân phối.
  • Triển khai, giám sát các kế hoạch bán hàng, các hoạt động hỗ trợ bán hàng, các chương trình, dự án phát triển.
  • Gặp gỡ và trao đổi với khách hàng về các sản phẩm của công ty, tư vấn và giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mà công ty đang kinh doanh để đi đến việc ký kết hợp đồng hợp tác.


YÊU CẦU

  • Có hiểu biết về ngành nghề kim khí, vật tư cơ khí
  • Có hiểu biết về việc phân phối truyền thống
  • Biết hàn là một lợi thế
  • Biết và có bằng lái xe

QUYỀN LỢI

  • Thu nhập gồm lương cơ bản, lương doanh thu, thưởng thành tích, phụ cấp môi trường, phụ cấp ăn ca.
  • Phụ cấp đi lại
  • Được hỗ trợ đào tạo
  • Môi trường thân thiện, hòa đồng


 Liên hệ: Ms. Ánh (0904221626 / anh.le@baochico.vn

[/tintuc]

 Hội thảo khoa học trực tuyến “Các nghiên cứu và ứng dụng gần đây về công nghệ phun phủ nhiệt”, do Hội Khoa học Kỹ thuật Hàn Việt Nam kết hợp với Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Hàn và Xử lý bề mặt, Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) tổ chức, có sự cộng tác của Cộng đồng "Mạng lưới hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam (LIFVietnam)” đã diễn ra chiều ngày 29/10/2021, tại Hà Nội.


Khai mạc Hội thảo, PGS,TS. Lê Thu Quý​, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Hàn Việt Nam, Giám đốc Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Hàn và Xử lý bề mặt đã trình bày báo cáo “Tình hình phát triển công nghệ phun phủ nhiệt ​ở Việt Nam”. Sau khi điểm lại những đặc điểm cơ bản nhất về công nghệ phun phủ nhiệt, PGS, TS. Lê Thu Quý đã hệ thống hóa và cung cấp các thông tin tổng hợp về các giai đoạn phát triển của công nghệ này bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, những phương pháp công nghệ phun phủ đang hiện hữu trong nước, các sách chuyên khảo đã xuất bản, các đề tài/dự án nghiên cứu khoa học đã thực hiện, các luận án tiến sĩ đã bảo vệ và các ứng dụng điển hình trong sản xuất công nghiệp.

____________________________________________

Tham gia Hội thảo có 8 diễn giả đến từ các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp trình bày các báo cáo về các kết quả nghiên cứu và ứng dụng công nghệ phun phủ nhiệt gần đây trong nước.

1. Tình hình phát triển Công nghệ Phun phủ nhiệt ở Việt Nam.

PGS.TS Lê Thu Quý - Phòng thí nghiệm trọng điểm CN Hàn và Xử lý bề mặt


2. Lớp phủ plasma hợp kim nền crom, ứng dụng để phục hồi các chi tiết làm việc trong môi trường chịu mài mòn và nhiệt độ. 

ThS Đặng Xuân Thao - Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội.

Nội DungBáo cáo trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số thông số công nghệ đến chất lượng lớp phủ, trên cơ sở đó tìm ra bộ thông số công nghệ phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng lớp phủ khi phun bột Cr3C2 – 30%NiCr trên bề mặt thép nền 16Mn bằng phương pháp phun phủ plasma (APS). Kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào phục hồi cho chi tiết cánh quạt khói làm việc trong điều kiện môi trường chịu mài mòn và nhiệt độ, đạt được hiệu quả cả về chất lượng cũng như kinh tế.

____________________________

3. Xử lý nâng cao tính năng làm việc của lớp phủ gốm Cr3C2-NiCr/Al2O3-TiO2 bằng chất bịt nhôm phốt phát có chứa nano Al2O3.


 TS Nguyễn Văn Tuấn - Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam.

Nội DungDo đặc điểm công nghệ, lớp phủ phun nhiệt luôn có chứa các lỗ xốp, ảnh hưởng lớn đến các tính chất của lớp phủ, đặc biệt là khả năng chống ăn mòn. Nghiên cứu này tiến hành xử lý thẩm thấu sau phun đối với lớp phủ plasma Cr3C2-NiCr/Al2O3-TiO2, sau đó đánh giá hiệu quả bảo vệ chống ăn mòn. Để xử lý thẩm thấu, nhôm phốt phát (APP) chứa các hạt nano Al2O3 (~ 10 nm) được sử dụng. Độ thẩm thấu của APP vào lớp phủ được phân tích bằng SEM-EDS. Hiệu quả xử lý được đánh giá bằng các phép đo điện hóa. Khả năng chống ăn mòn của lớp phủ được kiểm tra trong dung dịch tuần hoàn NaCl 3,5% có chứa hạt SiO2. Kết quả thu được cho thấy APP thấm sâu qua lớp phủ và sự kết hợp của các hạt nano Al2O3 đã cải thiện 20% hiệu quả bịt kín các lỗ rỗng so với APP không chứa nano.

____________________________

4. Ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố công nghệ tới tính chất của lớp phủ vô định hình nền sắt chế tạo bởi công nghệ phun phủ plasma sử dụng không khí làm khí sơ cấp.


TS Vũ Dương - Trường ĐH Duy Tân (Đà Nẵng).

Nội DungẢnh hưởng đồng thời của các yếu tố công nghệ tới tính chất của lớp phủ vô định hình nền sắt chế tạo bởi công nghệ phun phủ plasma sử dụng không khí làm khí sơ cấp

  • Phun phủ plasma thường sử dụng các khí trơ như Argon, Heli...
  • Không khí rẻ tiền hơn, có thể sinh plasma, xong nhược điểm là dễ gây ôxy hóa kim loại.
  • Nhưng nếu dùng hợp kim nền Fe kèm 1 số nguyên tố hợp kim tạo lớp phun vô định hình, để làm vật liệu chịu mòn thì độ cứng tuỳ thuộc hàm lượng ôxid sắt lại có ưu điểm.
  • Nghiên cứu có khảo sát các tính chất quan trọng khác của lớp phun như độ bám dính, độ cứng, độ chịu mòn do ma sát để thấy triển vọng của giải pháp này.

____________________________

5. Lớp phủ SiC-Cu bảo vệ chống ăn mòn mài mòn trong môi trường axit. 


ThS Ngô Xuân Cường - Phòng thí nghiệm trọng điểm CN Hàn và Xử lý bề mặt.

Nội DungBáo cáo giới thiệu về lớp phủ compozit SiC-Cu trên nền thép C45 tạo bằng phương pháp phun phủ plasma trong khí bảo vệ argon. Các thông số phun phủ bao gồm: tỷ lệ trộn bột phun 50 SiC : 50 Cu, tốc độ cấp bột 80 g/min, tốc độ khí phun 200 L/phút, dòng điện hồ quang 380 A và khoảng cách phun 50 mm. Lớp phủ compozit SiC-Cu sau khi phun được xử lý thẩm thấu bởi dung dịch PTFE. Phân tích cấu trúc và thành phần lớp phủ bằng kỹ thuật SEM và phổ EDS đã được thực hiện. Khả năng bảo vệ chống ăn mòn của lớp phủ được đánh giá thông qua các phân tích phổ tổng trở điện hóa.

____________________________

6. Nghiên cứu chế tạo thiết bị đánh giá độ bền mài mòn theo tiêu chuẩn ASTM G65. 


KS Ngô Văn Trọng - Công ty TNHH Bảo Chi (Hà Nội).

Nội DungBáo cáo trình bày về tiêu chuẩn ASTM G65 và tác nhân gây mòn cơ học trong sản xuất công nghiệp và giải pháp để xử lý làm giảm quá trình mòn đó. Đồng thời chế tạo thiết bị đo lường quá trình bào mòn cơ học được có thể sử dụng để đánh giá khả năng chống lại tác nhân gây mòn của lớp bề mặt.

____________________________

7. Giới thiệu công nghệ phun phủ laser - SENFENG LEIYAN. 


Bà Nguyễn Phạm Ngọc Linh - Công ty SENFENG LASER.

Nội DungGiới thiệu về SENFENG LEIYAN, thương hiệu trực thuộc công ty SENFENG LASER, chuyên nghiên cứu phát triển, gia công sửa chữa bằng công nghệ phun phủ laser. Công nghệ phun phủ laser: lịch sử hình thành, nguyên lý hoạt động, quy trình công nghệ chính, các hoạt động và ứng dụng của SENFENG LEIYAN trong phun phủ laser (phát triển vật liệu phun phủ, sản xuất máy móc, các linh phụ kiện liên quan).

____________________________

8. Ứng dụng các phương pháp công nghệ Phun phủ nhiệt tại Hán Thái. 


Ông Nìm Chí Siu - Công ty TNHH MTV Hán Thái Việt Nam (Long An)

Nội DungBáo cáo trình bày tổng quan về Ứng dụng các phương pháp công nghệ Phun phủ nhiệt tại Hán Thái

 [tintuc]

Phương pháp kiểm nghiệm độ chịu mòn bằng cát khô / đĩa là một trong phương pháp phổ biến nhất để đo lường khả năng chịu mài mòn của vật liệu.

Nhân tố gây mòn (cát khô) được cấp qua khe giữa vật mẫu đo và đĩa quay bằng cao su (hình 1). Nhân tố gây mòn khác có thể có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện làm việc cụ thể trong từng thiết bị, từng ngành công nghiệp cụ thể khác nhau, như: thiết bị nghiền công nghiệp, sơn, nhựa, phủ, lưu huỳnh,…

Các vật liệu được thử nghiệm có thể là Kim loại, gốm, nhựa, compoxit và lớp phủ.

Các biến có thể thay đổi, như: tốc độ trượt, khoảng cách, kích thước hạt cát,.. Các thông số này cung cấp các giá trị làm thay đổi các trường hợp của thực tế. 


Hệ Thống đo lường khả năng chịu mòn của vật liệu

Các thông số đo lường:

Kích thước vật đo: 25.4 x 76.2 x 3.2-12.7 mm
Nhân tố gây mòn: Alumina
Tốc độ cấp:  30-600 gr/min.
Tải trọng: 20, 130, 250 N
Khoảng cách trượt: 718 to 4309 m
Các đĩa: St37, CK45, GG25, X155

Tiêu chuẩn đo lường

ASTM G65: Standard Test Method for Measuring Abrasion Using the Dry Sand/Rubber
Wheel Apparatus
ASTM B611: Standard Test Method for Abrasive Wear Resistance of Cemented Carbide

[/tintuc]

[tintuc]Trân trọng kính mời các đồng nghiệp quan tâm tham dự Hội thảo khoa học trực tuyến do Hội Khoa học Kỹ thuật hàn Việt Nam kết hợp với Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Hàn và Xử lý bề mặt tổ chức.

Nền tảng Zoom-Meeting: 
  • ID: 97956961144
  • Passcode: 366562

Các báo cáo sẽ được trình bày trong Hội thảo:

Phần 1. Nghiên cứu khoa học

  •  14:00 - 14:15: Tình hình phát triển Công nghệ Phun phủ nhiệt ở Việt Nam.
    PGS.TS Lê Thu Quý - Phòng thí nghiệm trọng điểm CN Hàn và Xử lý bề mặt.
_________________________________________________

[tintuc]

Mặc dù còn gặp không ít khó khăn song nhiều doanh nghiệp chế tạo vừa và nhỏ (SME) Việt Nam vẫn đang không ngừng nỗ lực để tự khẳng định mình và tạo ra đóng góp thiết thực cho xã hội.

Vật liệu hàn là mặt hàng công nghiệp phụ trợ quan trọng đóng vai trò không thể thiếu đối với các ngành đóng tàu, ôtô, xe máy, điện tử,… Hơn 10 năm trước, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một khối lượng lớn vật liệu hàn khiến sản phẩm chế tạo trong nước thường bị đội chi phí và trở nên kém cạnh tranh. Theo dự báo của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), nhu cầu về vật liệu hàn trong nước sẽ chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới. Năm 2018, sản lượng sắt thép tiêu thụ nội địa đạt gần 21,75 triệu tấn; nếu tính bình quân sản lượng que hàn chiếm 3 – 5% tổng sản lượng thép tiêu thụ (trừ thép dây) thì nhu cầu đối với riêng mặt hàng này đã là rất lớn. Tuy nhiên, sản lượng que hàn do các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp ra thị trường (trong năm 2017) mới chỉ đạt hơn 52.000 tấn – số liệu của công ty nghiên cứu thị trường Vibiz.

Que hàn KOVI, sản phẩm của Công ty TNHH Bảo Chi. Ảnh: BCC.
Que hàn KOVI, sản phẩm của Công ty TNHH Bảo Chi. Ảnh: BCC.

Nhận thức rõ về khoảng trống trên một thị trường ngách (niche market) đầy hấp dẫn, một số doanh nghiệp tiên phong trong nước như Việt Đức, Kim Tín, Hữu Nghị, Tân Nam Đô, Atlantic,… đã mạnh dạn mua sắm máy móc, công nghệ,… cũng như chủ động liên kết, hợp tác để tăng cường sự hiện diện và chiếm lĩnh thị phần. Mặc dù vậy, không phải loại que hàn nào cũng đạt được vị thế tốt và doanh nghiệp còn thiếu quy trình chuẩn cho những sản phẩm thực sự “đẳng cấp”.

Kỹ sư Ngô Văn Trọng, nhà sáng lập kiêm tổng giám đốc Công ty TNHH Bảo Chi (BCC) cho biết cơ duyên đến với anh từ đầu năm 2019 khi được một người thầy, đồng nghiệp trong ngành cơ khí thông báo về một dây chuyền sản xuất que hàn của Hàn Quốc có giá chào hấp dẫn. Tại thời điểm ấy, trong đầu anh không hề có bất cứ ý niệm gì về mảng chế tạo que hàn; ngoài ra anh cũng chưa từng “mục kích sở thị” một quy trình sản xuất que hàn trên thực tế dẫu xuất thân là một kỹ sư hàn được đào tạo bài bản (tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Hà Nội). Nhưng sau khi bàn bạc với các cộng sự, anh vẫn quyết định nhập dây chuyền về để thử, sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Thoạt đầu, khi nhìn đống máy móc vừa được kéo tới xưởng, anh không khỏi hoang mang bởi trông chúng không khác gì một đống phế liệu ngổn ngang. Trong suốt vài tháng sau đó, anh và đội ngũ của BCC đã làm việc không biết mệt mỏi, vùi đầu vào tìm hiểu thiết kế, nguyên lý hoạt động của máy cùng quy trình sản xuất que hàn.


Phân xưởng sản xuất que hàn của Công ty BCC. Ảnh: BCC.

“Để làm chủ năng lực bảo dưỡng và sửa chữa những chi tiết đơn lẻ, chúng tôi đã làm hỏng máy không biết bao nhiêu lần”, anh Trọng tâm sự. Nhờ sự nỗ lực và được bạn bè, đồng nghiệp, nhất là những người đã có kinh nghiệm với loại máy này hỗ trợ, sau gần 2 năm, dây chuyền sản xuất que hàn của BCC đã được lắp đặt hoàn chỉnh và sẵn sàng đi vào hoạt động với công suất thiết kế 400 tấn/tháng cho giai đoạn 1 và hoàn toàn có thể mở rộng lên 600 tấn/tháng. Sản phẩm làm ra cho chất lượng vượt trội với ưu điểm: dễ tạo hồ quang và duy trì lâu trong nhiều điều kiện môi trường, ít tạo khói hàn, ít bắn tóe khi hàn, sỉ dễ bong, mối hàn sáng đẹp,… Bên cạnh đó, anh Trọng và các kỹ sư của BCC còn liên tục tìm cách cải tiến để tạo nên loại que hàn thân thiện với người sử dụng, nhất là những thợ cơ khí không chuyên (thợ vườn).

“Bản thân cái tên KOVI cũng lại là một sự tình cờ,” anh Trọng cho biết. Anh thừa nhận rằng mình ban đầu chỉ nghĩ được những danh xưng ghép theo kiểu Việt – Hàn, Hàn – Việt,… Thế rồi COVID-19 bùng phát khiến mọi hoạt động sản xuất, cung ứng bị gián đoạn, anh quyết định chọn cái tên KOVI bởi nó vô tình cũng được phát âm gần giống với COVID và cũng để ghi nhớ một biến cố kinh hoàng trong lịch sử nhân loại. Que hàn KOVI đánh dấu bước chuyển mình của BCC để trở thành một nhà sản xuất vật liệu hàn chuyên nghiệp (que hàn, tấm chịu mòn,…) thay vì chỉ nhận các hợp đồng gia công. Trong số những đối tượng khách hàng mà công ty hướng tới, BCC rất muốn tiếp sức và nâng đỡ các thợ vườn ở những miền quê còn nhiều thiếu thốn bằng các sản phẩm chất lượng với mức giá phải chăng. Anh Trọng kỳ vọng BCC sẽ bán được ít nhất 200 tấn que hàn/tháng trong năm 2022, đạt doanh thu gần 60 tỷ VNĐ và tạo công ăn việc làm cho hơn 30 lao động,…

Cá nhân anh Trọng rất ngưỡng mộ nhà công nghiệp kiêm phát minh người Thụy Điển Oscar Kjellberg (1870 – 1931) – cha đẻ của que hàn điện (coated electrode) và 2 công ty kỹ thuật lừng danh thế giới: Elektriska Svetsnings-Aktiebolaget (ESAB, trụ sở tại Thụy Điển) và Kjellberg Finsterwalde (Đức)1. Anh cũng ấp ủ kế hoạch xuất khẩu que hàn KOVI, tấm chịu mòn D-Plate, miếng nhám HIBEST,… trong tương lai không xa để khẳng định với bạn bè quốc tế rằng Việt Nam hoàn toàn có thể làm được những sản phẩm công nghiệp phụ trợ với chất lượng không hề thua kém Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,… Nhưng trước mắt anh cần tập trung cho mục tiêu ngắn hạn quan trọng và thiết thực hơn cả: chinh phục thị trường trong nước.

Chú thích

1. Ngày 27/06/1908, Oscar Kjellberg được cấp bằng sáng chế No.231733 tại Đức cho phát minh “Que hàn và quy trình hàn điện” (Electrode and procedure for electrical soldering). Trên cương vị tổng giám đốc ESAB (hoạt động từ năm 1904), năm 1921, Kjellberg cho thành lập thêm công ty Kjellberg Elektroden GmbH tại Berlin cùng 6 cổ đông (toàn bộ là người Đức và Thụy Điển) để sản xuất và thương mại hóa que hàn điện.
[/tintuc]

[tintuc]BCC được xây dựng từ 2014 trên bởi một nhóm anh em kỹ sư hàn từ Đại Học Bách Khoa Hà Nội dựa trên nền tảng là niềm đam mê và kiến thức về kỹ thuật và công nghệ. Sau 5 năm hình thành và phát triển, BCC đã, đang dần định hình trong tâm trí của khách hàng là hướng đến mục tiêu trở thành nhà cung cấp giải pháp về Công nghệ bề mặt hàng đầu (Surfacing technolgoies)


Nhằm hướng tới mục tiêu định hướng quốc tế hóa thương hiệu, BCC chính thức điều chỉnh bộ nhận diện thương hiệu mới và thay đổi khẩu hiêu của thương hiệu cho phù hợp với triết lý xây dựng của BCC trong giai đoạn tiếp theo.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn giải thích ý nghĩa và triết lý của cầu khẩu hiểu “More than a good partner” (Hơn cả một đối tác tốt). Câu khẩu hiểu nó là biêu tượng của tinh thần, giá trị mà BCC mong muốn xây dựng. Cụ thể BCC muốn hướng tới con người và mối quan hệ của con người trong việc phát triển tổ chức. BCC lấy câu khẩu hiểu để xây dựng 3 mối quan hệ mà BCC tin rằng nó là mấu chốt để phát triển một tổ chức bền vững, trường tồn.

MỐI QUAN HỆ GIỬA BCC VỚI KHÁCH HÀNG

Đây là mối quan hệ quan trọng mà BCC, những con người của BCC cần xây dựng. Mối quan hệ này được biểu hiện ở 3 cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu, từ cơ bản đến thân thiết.

Mối quan hệ “Người mua – Kẻ Bán”. Đây là bước đầu tiên cho bất kể một tổ chức, công ty nào cũng phải bắt đầu. Ở Mối quan hệ này, “người mua” và “kẻ bán” đôi khi có lợi ích đối lập nhau. Người mua muốn mua rẻ, giá trị nhiều. Nhưng người bán lại muốn ngược lại. Nên ở cấp độ này, mối quan hệ rất khó để có được sự bền vững.

Mối quan hệ đối tác: Khi mối được nâng cấp trở thành đối tác, làm việc hướng đến lợi ích kinh chung thì sự tương tác và tin tưởng sẽ đến từ 2 chiều. Và Khi quan hệ đối tác được duy trì, lâu dài thì chúng ta có 1 mối quan hệ đối tác tốt. Nhưng, ở một thời điểm nào đó trong mối quan hệ này, 2 phía nhất thời không đảm bảo lợi ích kinh tế thì mối quan hệ sẽ bị lung lay.

và Hơn cả một đối tác tốt là tiêu chí mà BCC đang hướng tới để xây dựng. Ở đó BCC với khách hàng ngoài là đối tác tốt, chia sẻ lợi ích kinh tế cùng nhau còn là mối quan hệ thân thiết, bằng hữu mà đối khi lợi ích kinh tế không phải là cái đặt lên hàng đầu. Mà ở đó là sự thấu hiểu, cảm thông, hỗ trợ và chia sẻ cả trong công việc và ngoài cuộc sống.

MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NGHIỆP, CỘNG SỰ

BCC luôn đặt con người là trung tâm để đặt và giải quyết vấn đề. Và Đội ngũ là máu thịt của BCC. Xây dựng đội ngũ là một trong nhưng nhiệm vụ sống còn. Nhưng câu hỏi đặt ra là tiêu chí là gì? Cơ sở nào để có được một đội ngũ vững mạnh, tin tưởng nhau, tâm huyết xây dựng.

Mối quan hệ “người cùng công ty“. Tổ chức được cấu thành từ các thành viên đến từ nhiều nơi, nhiều hoàn cảnh, trình độ và niềm tin khác nhau. Bởi Vậy thông thường, chúng ta bắt đầu bằng mối quan hệ của “người cùng công ty”, là cấp độ khởi thủy và cơ bản nhất. Ở cấp độ này, đôi khi mỗi người sẽ theo đuổi một tiêu chí và mục đích rất khách nhau. Điều này xuất hiện rất nhiều ở các doanh nghiệp và tổ chức hiện tại. Nó là yếu tố làm cho các tổ chức không thể đi một cách bên vững.

Một quan hệ “Cộng sự“. Khi những “người cùng công ty” nâng cấp mối quan hệ và coi nhau là cộng sự, là đối tác trong công việc. Họ bắt đầu có những điểm chung về lợi ích kinh tê. Ở mối quan hệ này, chúng ta có xu hướng làm tốt nhiệm vụ của chúng ta để đảm bảo sẽ có một kết quả chung tốt. Và khi mối quan hệ cộng sự được duy trì và phát triển lâu bên, chúng ta sẽ có mối quan hệ “đối tác tốt“.

BCC hướng đến việc xây dựng và nâng tầm mối quan hệ “đối tác tốt” trong nội bộ của BCC. Ở đố, những người đồng nghiệp, cộng sự tốt có thể coi nhau như anh em, như bằng hữu. Và luốn tìm mọi cách, cơ hội để tạo điều kiện hỗ trợ và giúp đỡ nhau cả trong công việc và ngoài cuộc sống. Và Khi đó BCC có một cái được gọi là “GIA ĐÌNH BCC“

MỐI QUAN HỆ GIỮ CÁC THÀNH VIÊN, CỔ ĐÔNG

Để đi dài, đi bên vững, BCC không thể chỉ dựa vào các thành viên sáng lập, những cổ đông ban đầu. Mà chắc chắn, BCC sẽ phải đón nhận thêm các nhà đầu tư, cổ đông mới. Và Xây dựng mối quan hệ giữa các cổng đông, thành viên sở hữu là một trong 3 mối quan hệ quan trọng mà BCC muốn xây dựng. Và đương nhiên, nó cũng sẽ phải trải qua 3 cấp độ tự cơ bản đến nâng cao.

  • Mội quan hệ “người buôn tiền, kẻ mong vốn”.
  • Mối quan hệ đối tác tin cậy
  • Và Hơn cả một đối tác tốt.

Quang Minh, Ngày 20/4/2021
Ngô Văn Trọng
Sáng lập BCC
[/tintuc]

[tintuc]

đắp phục hồi con lăn đúc liên tục trong nhà máy thép

Tài liệu này mô tả quy trình sửa chữa đắp phục hồi con lăn đúc liên tục (Continuous Casting Rolls) bằng chu trình hàn hồ quang được nghiên cứu bởi BCC D-Techs - Giải pháp phục hồi và tăng cường bảo vệ bề mặt công nghiệp bằng công nghệ hàn đắp. Nó đề cập đến các vấn đề của vật liệu cơ bản, thông số hàn, các yêu lưu ý trong suốt quá trình hàn, quá trình xử lý nhiệt sau khi hàn và đặc điểm nổi bật của dây hàn hợp kim.


2.0   CÔNG VIỆC VÀ VẬT LIỆU NỀN

2.1 Công việc

Con lăn đỡ làm việc trong môi trường nhiệt độ cao (bức xạ nhiệt), nhiệt độ thay đổi và chịu lực nén từ trọng lượng của trọng lượng phôi thép cộng với ma sát lăn giữa bề mặt con lăn và bề mặt phôi thép chạy qua. Đó tất cả là những nguyên nhân gây mòn, thủng vỡ trên bề mặt của con lăn có thể xảy ra trong quá trình làm việc. Đó cũng là cơ sở cho việc lựa chọn vật liệu hàn va kỹ thuật hàn phù hợp cho việc phục hồi bề mặt và kích thước của con lăn.

2.2 lớp vật liệu nền của con lăn

Tài liệu này đề cập đến việc hàn đắp cho con lăn đỡ trong ngành sản xuất thép. Loại vật liệu sử dụng trong quy trình này được đề cập tại tiêu chuẩn EN 10269, 16CrMo44, 25CrMO4, 42CrMo4hoặc loại tương đương. Thành phần tỉ lệ của các loại thép được đề cập như trong bảng 1

Thành phần hóa học của vật liệu cơ bảnBảng 1: Thành phần hóa học của vật liệu cơ bản

3.0 VẬT LIỆU HÀN ĐĂP

Dây hàn D430, D414 được khuyến nghị dung trong hàn sửa chữa bề mặt của những loại con lăn này.

Trong đó, Dây hàn D430 được sử dụng cho hàn lớp hàn lót. Kim loại hàn được sử dụng đặc biệt cho con lăn với loại vật liệu nền 42CrMo4 hoặc thành phần tương đương loại mà có hàm lượng cac-bon lớn 0.3%. Đây hàn D414N được sử dụng cho các lớp hàn đắp sau đó. Tùy thuộc và chiều dầy đắp mong muốn, số lớp hàn có thể là 2 hoặc lớn hơn.

Với những loại con lăn 16CrMo44 và 25CrMo4, dây hàn hợp kim D430 có thể được sử dụng trực tiếp sau khi bề mặt đã được làm thật sạch trước khi hàn mà không cần sử dụng lớp hàn lót.

Kim loại mối hàn từ dây D430 chứa thành phần cac-bon thấp, silicon thấp, hợp kim Chromium, Molydenum thấp, kim loại hàn thấp. và dây D414 có lượng cac-bon trung bình, kim loại hàn thép Mác-ten-xít có bổ sung thêm Nickel, Molydenum và Vanadium. Kim loại hàn cũng bao gồm việc bổ sung thêm 1 lượng có kiểm soát Nitrogen. Sự kết hợp vật liệu hàn này mang lại cho lớp vật liệu hàn đắp cấu trúc nhiệt luyện cac-bon trung bình như trong cấu trúc của thép Mac-ten-xit. Do đó, nó được thiết kế cho các loại vật liệu có tính chất cứng và Dai. Việc bổ sung Nitrogen trong khi hàn sẽ làm cho lớp hàn đắp cứng hơn và chống mòn tốt hơn trong các ứng dụng làm việc dưới áp lực cao và nhiệt độ cao, nhiệt độ theo chu trình.

4.0 KĨ THUẬT VÀ THÔNG SỐ HÀN

Điểm ưu việt của dây hàn hợp kim SAW là lớp hàn đắp có đường hàn với tỉ lệ cao hơn (độ rộng, chiều cao). Lớp hàn đắp cũng có được hàn thống nhất giữa vùng đỉnh và vùng chân mối hàn. Một biểu đồ phác thảo của bề mặt lớp đắp có đường hàn của quy trình hàn đắp con lăn được thể hiện như Hình 1. Nhìn chung, chiều cao được đắp của quá trình hàn dưới lớp thuốc (SAW) sẽ thấp hơn so với các quá trình hàn tương khác với cùng một số lớp hàn.

So sánh về chiều cao mối hàn giữa SAW và GMAW
Hình 1: So sánh về chiều cao mối hàn giữa SAW và GMAW

Đối với lớp đắp, việc chồng lớp các đường liền kề có thể giảm đáng kể biến dạng của kết cấu hàn (hình 1). Do đó, việc định vị dây trong suốt quá trình hàn sẽ làm đảm bảo độ chồng lớp đường hàn cao hơn (xấp xỉ 50%) để giảm  biến dạng của kết cấu được thể hiện trong hình 2.

hàn đắp phục hồi con lăn đúc liên tục trong nhà máy thép

Hình 2 - Ảnh hưởng của việc chồng lớp hàn (bước nhảy) đối với biến dạng hàn

5.0 SỰ XỬ LÍ NHIỆT SAU KHI HÀN VÀ BIỆN PHÁP KHỬ ỨNG SUẤT DƯ

Việc hàn là quá trình cấp nhiệt vào kết cấu hàn, nó sẽ hình trong trong kết cấu ứng suất dư sau khi kết thúc công việc hàn. Nhiệm vụ của công tác sử lý nhiệt là giảm ứng suất dư và sắp xếp lại cấu trúc của tổ chức kim loại hàn. Với những Con lăn nhỏ (cán thép) có thể sử dụng lò để thực hiện công việc này. Đối với con lăn kích thước lớn (con lăn đỡ lò) toàn bộ bề mặt sau khi hàn phải được xử lý nhiệt và kiểm soát nhiệt độ bằng máy xử lý nhiệt sáu kênh. Quy trình kiểm soát nhiệt được thực hiện như sau:

  • Đưa nhiệt động lên 400-450 độ và giữ ở nhiệt độ đó trong vòng từ 6-8 giờ.
  • Nhiệt độ con lăn trước khi thực hiện phải thấp hơn 100 độ
  • Tốc độ nung nóng (tăng nhiệt) và làm nguội (giảm nhiệt) tối đa là 100 độ/giờ

Độ cứng của bề mặt con lăn sau khi xử lí nhiệt sau khi hàn được thể hiện trong hình 4. Độ cứng đạt được sau khi xử lý nhiệt là 40-42 HRC. Việc kiểm soát nhiệt độ là đặc biệt quan trọng. Vì nếu nhiệt độ vượt quá giớ hợn trên (>450 độ) tổ chức tế vi lớp hàn đắp sẽ bị làm thô các cấu tạo vi lượng và làm mềm kim loại hàn. 

Hàn đắp phục hồi con lăn đúc liên tục trong nhà máy thép

Hình 4: Biểu đồ ảnh hưởng của nhiệt độ xử lý nhiệt và độ cứng bề mặt lớp hàn đắp

6.0 TÓM TẮT CÁC BƯỚC HÀN HÀN

Quy trình hàn được khuyến nghị cho hàn đắp phục hồi cho con lăn đỡ bao gồm các bước đề cập dưới đây

6.1 Chuẩn  bị bề mặt:

Con lăn cần được được kiểm tra trước khi tiến hành công việc hàn bề mặt. Bề mặt con lăn phải được làm sạch khỏi  bụi bẩn, rỉ sét, dầu mỡ…

Kiểm tra (Siêu âm) toàn bộ cả trên bề mặt và bên trong kết cấu. Trong trường hợp có tồn tại vết nứt, nó cần được thổi bỏ và sửa chữa lại bằng dây hàn bù.

6.2  Khử ứng suất trước khi hàn

Con lăn sau khi làm việc từ khi cấp mới đã có tồn tại ứng suất dư và bề mặt đã bị biến cứng một phần. Do đó, Con lăn, tốt hơn hết, là nên được giảm ứng lực từ 400-450 độ trong khoảng 1 giờ cho mỗi 1 inch độ dầy và làm mát từ từ để giảm ứng suất dư có sẵn.

6.3 Gia nhiệt và duy  trì nhiệt:

Gia nhiệt tối thiều tới 250 độ trước khi bắt đầu hàn và duy trì nhiệt độ tương tự (không vượt quá 250 độ) trong suốt quá trình hàn.

6.4 Hàn

Phụ thuộc vào thành phần cấu tạo của con lăn, quy trình hàn sử dụng với lớp lót của D430 và các lớp hàn đắp D414

Với thông số hàn tối ưu, mỗi lớp hàn sẽ dầy thêm 2-3mm trên đường kính của con lăn. Thông số hàn như đề cập ở Quy trình hàn.

Nhiệt độ duy trì ở mức 250 độ sẽ được duy trì trong suốt quá trình hàn.

6.5 giảm ứng lực sau khi hàn:

Sau khi hàn con lăn phải được tiến hàn xử lý nhiệt nhằm khử ứng suất dư trong kết cấu và sắp xếp lại tổ chức tế vi của kim loại hàn.

6.6 Gia công bề mặt sau khi hàn

Con lăn sau khi được xử lý nhiệt sẽ được gia công hoàn thiện lại bề mặt cho đến khi đạt được kính thước mong muốn. Các thống số bề mặt: Kích thước, độ nhám bề mặt, độ đồng tâm phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo các thong số vận hành của con lăn sau khi phục hồi. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của con lăn sau khi phục hồi.

6.7 Kiểm tra:

  • Các biện pháp kiểm tra sau khi hàn sẽ được thực hiện:
  • Kiểm tra không phá hủy (PT & UT) Thực hiện trước khi gia công bề mặt.
  • Kiểm tra kích thước con lăn
  • Kiểm tra độ tròn và đồng tâm của con lăn.

 7.0  CÁC LƯU Ý KHI THỰC HIỆN

Trong suốt ứng dụng đắp phục hồi, nên làm theo cảnh báo dưới đây để nhằm đạt được kết quả như mong đợi

  1. Làm sạch con lăn trước khi hàn
  2. Giảm ứng suất dư của con lăn trước khi hàn
  3. Gia nhiệt con lăn tới 250 độ và duy trì nhiệt độ đó trong suốt quá trình hàn.
  4. Con lăn ở bên trong lò sẽ phải đặt trong 1 vị trí hợp lí trong hoặc giữa để có được luống nhiệt đều và tốt hơn xung quanh chúng.
  5. Kiểm soát chặt chẽ quá trình xử lý nhiệt đảm bảo sự đồng đều của toàn bộ bề mặt con lăn. Tốc độ nung nóng và làm nguội không vượt quá 100 độ/giờ.
  6. Trong suốt quá trình xử lý nhiệt, sau khi làm nguội xuống 100 độ C, con lăn sẽ được cho phép làm nguội thông thường (air-cool) tới nhiệt độ phòng. Độ cứng đạt được thực sự chỉ có sau khi làm mát tới nhiệt độ trong phòng (25-30 độ C).

8.0 ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA DÂY HÀN D-430 VÀ D414

  1. Là một loại dây hợp kim  với lượng cac-bon thấp (<0.05%), lượng Silicon thấp (<0.4%) có bổ sung thêm Chromium, Nickel và Molybdenum.
  2. Bề mặt lớp đắp đồng đều, độ liên kết tốt hơn và đồng đều về độ cứng.
  3. Kim loại hàn lớp đắp không bị nứt vỡ và sau khi xử lí giảm ứng lực sẽ hình thành cấu tạo tổ chức tế vi ổn định.
  4. Chống mòn tối ưu
  5. Bề mặt lớp đắp có khả năng chống mài mòn trong điều kiện làm việc khí hậu bình thường.
  6. Tỉ lệ lớp đắp tốt đáng kể với thông số hoạt động bình thường (xấp xỉ 6.0 kg/1 giờ hồ quang với dây đường kính 2.4mm)





Nguồn: BCC D-Techs

[/tintuc]

+84-898-471122